Quân
đội nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944. Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta luôn là
lực lượng chính trị, đội quân chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước
và Nhân dân. Trong thời chiến quân đội là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh
giặc giải phóng dân tộc, trong thời bình quân đội là lực nòng cốt trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa
dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia,
trật tự, an toàn xã hội. Suốt chiều dài từ khi thành lập, Quân đội ta đã cùng toàn Đảng, toàn
dân lập được nhiều chiến công
tiêu biểu, đó là:
Mở đầu là diệt đồn Phai Khắt, Nà Ngần ngày 25 và 26/12/1944,
đã góp phần quan trọng để Nhân dân ta tiến
hành cuộc Cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam dân
chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam). Tiếp đó, hưởng ứng Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/12/1946),
nhiều trận đánh quyết liệt đã diễn ra ở Bắc Bộ Phủ, nhà ga, cầu Long Biên, chợ
Đồng Xuân (Hà Nội); chiến thắng Việt Bắc năm 1947; chiến thắng Biên Giới năm
1950; Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954.
Đánh bại cuộc chiến
tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ ở miền Bắc (từ ngày 07/02/1965 đến ngày 01/11/1968); chiến thắng Bình Giã (từ ngày 02/12/1964 đến ngày
03/01/1965),
đánh dấu sự thất bại của Mỹ - Ngụy trong chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt”; chiến thắng Núi Thành (26/5/1965); Chiến thắng Vạn Tường (từ ngày 18 đến ngày 19/8/1965) đánh bại cuộc hành quân “Tìm diệt” quy mô lớn của quân viễn chinh Mỹ; chiến dịch Plây Me (từ ngày 19/10 đến ngày 26/11/1965);
cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ta đánh chiếm 39 mục tiêu quan trọng, làm chủ hầu hết thành phố và chốt giữ
25 ngày đêm; chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (từ ngày 30/01 đến ngày 23/3/1971); đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ (từ ngày 06/4/1972 đến ngày 15/01/1973); đại thắng mùa Xuân ngày 30/4/1975 đất nước thống nhất,
cả nước đi lên chủ nghĩa
xã hội.
Bảo vệ vững chắc biên giới Tây
Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc, hoàn thành
tốt nhiệm vụ quốc tế giúp quân dân Campuchia chiến thắng
chế độ diệt chủng, tiến hành công
công cuộc hồi sinh đất nước.
Ngày nay, trong sự nghiệp
đổi mới, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp tục là lực lượng nòng cốt cho toàn dân
trong phòng,
chống thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy
sinh xương máu để bảo vệ tài sản của nhân dân, của quân đội. Đặc
biệt là những thành tích của quân đội trong
tham gia phòng, chống dịch COVID-19 được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.
Tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc,
góp phần thúc đẩy
hợp tác quốc phòng đa phương, giữ vững niềm tin của Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế, góp phần
tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc phòng với nhiều quốc gia, đối tác, nâng cao
vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đó chính là những thành tích, chiến
công, sự trưởng thành, lớn mạnh của quân đội ta trong 80 năm qua gắn liền với sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt
của Đảng và công ơn giáo dục, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày nay, cán bộ, chiến sĩ
trong quân đội, đặc biệt là những chiến sĩ mới nhập ngũ năm 2024 cần tích cực
học tập, nghiên cứu để hiểu sâu sắc hơn về những thành tích, chiến công to lớn
đó của Quân đội ta, từ đó không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu trở thành
người quân nhân ưu tú của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, góp phần xây dựng Quân đội ta “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại” theo quan điểm của Đảng.
Trịnh Thành, Văn Du
