Theo
KCTĐ - Từ năm 1407, tuy chiếm được nước ta và thiết lập chính quyền đô hộ, quân xâm lược nhà Minh vẫn không
thể khuất phục được dân tộc ta. Các cuộc khởi nghĩa của các tầng lớp
nhân dân yêu nước nhằm lật đổ ách thống trị diễn ra liên tục kéo dài, ngày càng quyết liệt và
lan rộng khắp nơi, trong đó tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi
và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã chấm dứt hơn 20 năm
đô hộ của triều đình phong kiến nhà Minh; Mở ra một thời kì độc lập và có giai
đoạn phát triển cực thịnh nhất trong những triều đại phong kiến Việt Nam. Làm
nên chiến thắng đó là tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó không thể không nhắc
đến nghệ thuật chiến thuật tài tình và chọn hướng, mục tiêu tiến công chính xác.
Trong suốt mười năm
đánh giặc, Bộ Tham mưu nghĩa quân đều
chủ trương “lánh chỗ
thực, đánh chỗ hư, tránh nơi vững chắc, đánh nơi
sơ hở”.
Chọn Nghệ An làm hướng tiến công, đây là nơi hiểm yếu, quan
trọng nhưng địch thiếu
phòng bị. Lực lượng quân Minh ở Nghệ An tương đối yếu so với nơi khác. Thành Nghệ An tuy kiên cố nhưng xung
quanh thành không có đồn lũy phòng bị vững chắc. Chiếm được Nghệ
An không chỉ chiếm được một vùng “đất rộng, người
đông” mà còn
chia cắt địch ra làm hai
miền, quân địch ở phía
Nam hoàn toàn bị cô lập.
Sau khi giải phóng Diễn
Châu và Thanh Hóa, nghĩa quân không phát triển ngay ra Bắc mà chủ trương đánh
vào Tân Bình, Thuận Hóa nhằm đánh vào nơi “sơ
hở”, “chỗ trống” của quân Minh.
Chọn mục tiêu, khi nghe tin viện
binh nhà Minh sắp
sang, nhiều tướng đề nghị Lê Lợi hạ
gấp thành Đông Quan để trừ
diệt nội ứng rồi sau đó sẽ
dốc toàn lực lượng đánh viện binh địch. Lê Lợi cho rằng đánh vào thành lúc này là hạ sách. Vì
đánh thành, nếu thời gian kéo dài mà không hạ được, làm cho quân ta sức mệt, chí nản. Nếu viện binh địch
đến thì trước và mặt sau lưng đều bị địch tiến công sẽ nguy. Còn nếu viện binh
địch bị phá thì thành tất phải hàng.
Làm một việc mà được cả hai đó mới là kế vẹn toàn. Bộ Tham mưu nghĩa quân đã quyết định
phương án "vây thành diệt viện". Vây hãm địch ở Đông Quan và các thành
khác, kiềm chế ngăn quân Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa
(Lào Cai). Tập trung lực lượng vào mục tiêu chủ yếu ở ải Chi Lăng, chọn
đạo quân viện binh do Liễu Thăng chỉ huy, trên hướng Lạng Sơn làm mục tiêu tiến
công chủ yếu, khi địch
trên hướng này bị tiêu diệt sẽ gây chấn động mạnh phá vỡ thế trận của địch. Đạo
quân Mộc Thạnh mất chỗ dựa và tự tan vỡ. Vương Thông và lực lượng giặc trong
thành Đông Quan “không đánh mà bị bắt” là điều tất yếu. Quyết định chiến lược
sáng suốt đó đã làm nên thắng lợi trận quyết chiến chiến lược Chi Lăng - Xương
Giang.
Khi nghiên cứu về chiến thuật trong
khởi nghĩa Lam Sơn thấy rằng, phục kích,
tập kích là chiến thuật sở
trường nhất của nghĩa quân, được sử dụng có hiệu quả trong suốt quá trình khởi
nghĩa. Nguyễn Trãi nói: “yếu chống mạnh hay đánh bất ngờ, ít địch nhiều thường
dùng mai phục”. Tiêu biểu là các trận phục kích lớn nổi tiếng ở Tốt Động - Chúc
Động, hoặc trận phục kích tiêu diệt lớn quân địch ở Chi Lăng.
Trong
tổ chức đánh các thành trì kiên cố, nghĩa quân chủ yếu tập trung bao vây, cô
lập thành là chính, “đánh thành là hạ sách”, nhưng khi cần thiết để phục vụ yêu
cầu chiến lược và khi có điều kiện, nghĩa quân đã thực hiện công thành. Trận
nổi tiếng bấy giờ là trận hạ thành Xương Giang, cụ thể là: Sau khi bị Nghĩa
quân đánh thiệt hại nặng nề ở Ải Chi Lăng, các đồn Khâu Ôn, Cần Trạm, đám tàn
binh của Quân Minh cố gắng rút về thành Xương Giang, là một thành kiên cố, có
ba mặt là Sông Thương và Sông Lục Nam để cố thủ và củng cố lực lượng. Bộ chỉ huy tối cao
Lam Sơn đã nhanh chóng và kịp thời điều động danh tướng Trần Nguyên Hãn lên,
đánh hạ thành Xương Giang ngay trước khi quân Minh kéo đến, khiến địch chỉ còn
cách tìm chỗ cánh đồng rộng ở phía bắc Xương Giang khoảng 3km chơ vơ hạ trại,
chờ giờ bị tiêu diệt, ở giai đoạn thứ ba của chiến dịch. Trong khi địch đã cùng
đường thì nghĩa quân lại quyết tâm hơn bao giờ hết, để-vẫn theo “Bình Ngô đại
cáo” của Nguyễn Trãi-“Đánh một trận sạch không kình ngạc/ Đánh hai trận tan tác
chim muông”, khiến địch thì: “Như ổ kiến, tan dưới bờ đê vỡ”, còn nghĩa quân
thì: “Tựa gió lừng, quét sạch đám lá khô”. Trận tổng công kích Xương Giang ngày
3-11-1427 đã giết chết tại trận hơn 5 vạn quân địch, bắt sống hơn 1 vạn (trong
đó có cả Đô đốc Thôi Tụ và Thượng thư Hoàng Phúc).
Chiến thắng lịch sử của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn để để lại
những ý nghãi lịch sử to lớn đối với dân tộc ta. Nó thể hiện tinh thần yêu nước
nồng nàn của nhân dân, sự dũng cảm dám đứng lên đấu tranh bảo vệ tổ quốc, đánh
tan ách xâm lược của giặc ngoại xâm. Cùng với đó, thể hiện công cuộc dựng nước
và giữ nước của đất nước ta với viết bao công trạng của những người anh hùng đã
làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc, mang lại cuộc sống ổn định, ấm no, hạnh
phúc của người dân. Cùng với đó để lại những giá trị văn hóa, khoa học, nghệ
thuật có giá trị đến đời sau.
VIẾT XUÂN
