Theo KCTĐ - Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) hoàn toàn thắng lợi đã chấm dứt hơn 20 năm đô hộ của triều đình phong kiến nhà Minh; Mở ra một thời kì độc lập và có giai đoạn phát triển cực thịnh nhất trong những triều đại phong kiến Việt. Chiến thắng đã thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân ta, lòng dũng cảm và tinh thần chiến đấu bất khuất cũng như tinh thần nhân đạo sáng ngời của dân tộc. Và một trong những yếu tố tiên quyết làm nên chiến thắng cách đây gần 600 năm đó chính là việc xác định đúng đắn phương thức tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng mà đứng đầu là Lê Lợi và Nguyễn Trãi.
Chủ trương dựa vào dân, xây dựng lực lượng
từ nhân dân, thực hiện khởi nghĩa toàn dân là phương thức đúng đắn để xây dựng nghĩa quân
Lam Sơn ngày một trưởng thành, hùng mạnh. Trước cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã có
nhiều cuộc khởi nghĩa khác nổ ra nhưng đều thất bại, bởi chưa động viên được toàn
dân tham gia. Điểm khác căn bản giữa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với các cuộc khởi
nghĩa trước đó là ở chỗ, Lê Lợi và Bộ Tham mưu nghĩa quân đã biết
dựa vào dân, xây dựng lực lượng nghĩa quân từ nhân dân để tiến hành cuộc chiến
tranh toàn dân đánh giặc.
Sự phát triển nhanh chóng của nghĩa quân
là kết quả của quan điểm chiến lược dựa vào dân, xây dựng lực lượng nghĩa quân
từ nhân dân, xây dựng quân đội trên cơ sở phong trào yêu nước của nhân dân. Với mục
đích chính nghĩa hợp lòng dân nên nghĩa quân Lam Sơn được đông đảo nhân dân ủng
hộ, từ đó Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã phát động được một cuộc chiến tranh nhân dân,
với nhiều hình thức đánh giặc phong phú.
Quá trình cuộc chiến
tranh chống quân Minh đã diễn ra, trong khi nghĩa quân vây hãm các thành lũy,
cũng như tiến về giải phóng các châu, huyện luôn được nhân dân đứng lên cùng
tham gia, hưởng ứng. Ở miền núi Nghệ
An nhiều tù trưởng các dân tộc thiểu số đem cả bản mường theo Lê Lợi, họ vận động
nhân dân nổi dậy, lập thành lực lượng vũ trang cùng phối hợp với nghĩa quân
đánh giặc, giải phóng quê hương và vui mừng đón tiếp các lãnh tụ khởi nghĩa. Trong các trận quyết
chiến chiến lược như Tốt Động - Chúc Động hay Chi Lăng - Xương Giang đều có sự
tham gia chiến đấu của các đội dân binh, của lực lượng vũ trang làng xã.
Bộ Chỉ huy Lam Sơn mà linh hồn là Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã biết
tổ chức dân chúng, kết hợp tiến công địch bằng cả sức mạnh của nghĩa quân và sự
trỗi dậy của quần chúng, nhằm tiến công bao vây, diệt địch và giành quyền tự chủ.
Cuộc chiến tranh chống Minh do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo là một cuộc chiến
tranh có tính chất nhân dân rộng rãi. Tổ chức đánh địch bằng
mọi lực lượng để tiến công địch, đánh địch trên cả lĩnh vực chính trị, quân sự
và binh vận, kết hợp giữa quân sự và ngoại giao; kết hợp tiến công tiêu diệt địch,
vây thành, dụ hàng và tiêu diệt viện binh.
Trong quá trình chiến tranh, Lê Lợi và Bộ Tham mưu
nghĩa quân luôn coi trọng vấn đề xây dựng lực lượng cũng như đấu tranh vũ
trang, coi đó là mũi tiến công chủ yếu để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch.
Nhưng trải qua quá trình đấu tranh, tùy theo sự phát triển của thế và lực trên
chiến trường, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã vận dụng tiến công quân địch trên các
lĩnh vực chính trị, binh vận và ngoại giao.
Ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh, Lê Lợi
chấp nhận “tạm hòa” với giặc. Trong giai đoạn hai, Lê Lợi chủ yếu sử dụng các
đòn tiến công quân sự, cùng với nổi dậy của quần chúng, để tiêu diệt địch, mở rộng
vùng giải phóng. Từ giai đoạn
ba, đặc biệt sau trận ở Tốt Động - Chúc Động, bên cạnh tiến công quân sự là cuộc
đấu tranh kiên trì và khéo léo về ngoại giao, nhằm tiến công vào ý chí xâm lược của giặc, tiến tới
chấm dứt chiến tranh bằng cách mở ra cho quân Minh một lối thoát “trong danh dự”.
Những bức thư dụ hàng tướng giặc của Nguyễn Trãi nhằm thực hiện chiến lược “công tâm” (đánh vào lòng người) đã “có sức mạnh bằng mười vạn quân” góp phần làm tan rã tinh thần chiến đấu của
giặc. Công tác vận động thuyết phục kẻ thù được nghĩa quân coi là một nhiệm vụ
chiến lược, một phương thức tiến công chiến lược.
Về quân sự, Lê Lợi và
Nguyễn Trãi chủ trương vây thành diệt viện nhưng những thành lũy nằm trên các
trục đường tiếp viện của giặc như Thị Cầu, Xương Giang, Khâu Ôn, Tam Giang thì
nghĩa quân quyết tâm tiêu diệt hết. Trước sự vây hãm và tiến công bằng quân sự
kết hợp với công tác địch vận của ta, quân địch ở các thành Nghệ An, Diễn Châu,
Tam Giang…lần lượt ra hàng. Để đánh bại ý chí xâm lược của giặc Minh, đòn chủ yếu
vẫn là quân sự. Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang là chiến công quân sự có ý
nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc buộc quân
Minh phải xin hàng.
Khởi
nghĩa Lam Sơn thắng lợi cách đây đã gần 600 năm, nhưng bài học về xác định đúng
phương thức tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng mà nghĩa quân đã vận
dụng sẽ vẫn luôn là bài học sáng ngời, làm phong phú thêm nghệ thuật Quân sự Việt
Nam hiện nay.
VIẾT XUÂN
