Theo
KCTĐ - Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) hoàn toàn thắng lợi đã chấm dứt hơn 20
năm đô hộ của triều đình phong kiến nhà Minh; mở ra một thời kì độc lập và giai
đoạn phát triển cực thịnh nhất trong những triều đại phong kiến Việt Nam. Chiến
thắng đã thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân ta, lòng dũng cảm và tinh
thần chiến đấu bất khuất cũng như tinh thần nhân đạo sáng ngời của dân tộc. Và
một trong những yếu tố tiên quyết, trực tiếp góp phần kết thúc cuộc chiến tranh
đó chính là Nghĩa quân Lam Sơn mà đứng đầu là Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã
áp dụng sáng tạo chiến thuật “Vây thành, diệt viện” trong đợt hoạt động tác
chiến vây hãm thành Đông Quan, diệt và làm tan rã hai đạo quân cứu viện do Liễu
Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy vào năm 1427. Đây là bài học quý làm phong phú thêm
nghệ thuật Quân sự Việt Nam.
Chiến
thuật “Vây thành, diệt viện” – Ngày nay còn có tên gọi khác là “Đánh điểm, diệt
viện” - là chiến thuật nhấn mạnh yếu tố cơ động, bao gồm sự phối hợp
của tấn công và mai phục.
Một đơn vị quân sự sẽ tấn công vào một cứ điểm quân sự, nhằm gây áp lực buộc
quân đối phương đưa quân chi viện. Lực lượng chi viện đến ứng cứu sẽ bị đón
đánh bởi một lực lượng của quân tấn công đã chờ sẵn, tại các địa hình có
giá trị về chiến thuật, gây bất ngờ cho đối phương. Tâm điểm tấn công tiêu diệt
không phải là lực lượng đối phương đang phòng thủ tại cứ điểm mà là lực lượng
đến chi viện. Việc đón đánh một đạo quân đang trên đường di chuyển sẽ dễ dàng
hơn việc đánh bại một lực lượng đồn trú đang phòng thủ, bao gồm yếu tố bất ngờ,
quân đón đánh trong tình trạng mai phục đã sẵn sàng cũng có lợi thế hơn. Việc
tổ chức lối đánh này phụ thuộc vào việc đánh giá chính xác địa bàn và cứ điểm
quân sự mà quân đối phương nhất định sẽ chi viện, hoặc nhất định sẽ tổ chức tái
chiếm. Cũng như tính toán hướng chuyển quân đến của đối phương, từ đó bố
trí tốt các điểm mai phục.
Trong Khởi
nghĩa Lam Sơn, năm 1427, Nghĩa quân hoàn toàn giữ quyền chủ động chiến lược,
liên tiếp giành thắng lợi, tiêu diệt lớn lực lượng địch, buộc Tổng binh Vương
Thông cùng toàn bộ số quân còn lại phải cố thủ trong thành Đông Quan và một số
thành lũy khác, chờ quân cứu viện. Trước tình thế nguy cấp đó, nhà Minh đã huy
động lớn lực lượng tiến vào nước ta, nhằm mưu đồ: trước là để cứu viện, sau là
chuyển bại thành thắng để tiếp tục đô hộ nước ta. Trên cơ sở phân tích, đánh
giá tình hình, so sánh lực lượng, thế, lực giữa ta và địch, Bộ Chỉ huy Nghĩa
quân chủ trương: bao vây chặt thành Đông Quan, buộc quân địch phải đến giải
cứu, tiếp đó ta tập trung lực lượng tiêu diệt lực lượng viện binh chiến lược
này của chúng. Diễn biến tình hình đúng như chủ trương, kế hoạch chiến lược đã
vạch ra, chỉ sau gần 01 tháng chiến đấu, Nghĩa quân đã đánh tan hai đạo viện
binh lớn của nhà Minh, buộc địch trong thành Đông Quan phải đầu hàng, rút quân
về nước, chấm dứt 21 năm đô hộ hà khắc của nhà Minh đối với dân tộc ta. Chiến
thuật đó thể hiện cụ thể trên một số nét chính sau:
Một là, vây
ép, cô lập hoàn toàn địch trong thành, buộc chúng phải kéo viện binh chiến lược
để giải cứu, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt lớn lực lượng địch, kết thúc chiến
tranh. Sau khi giải phóng nhiều địa bàn chiến lược trọng yếu, Nghĩa quân
Lam Sơn thừa thắng tiến đánh thành Đông Quan - lực lượng chủ yếu và là sào
huyệt cuối cùng của quân Minh. Quân Minh do Vương Thông chỉ huy cố thủ trong thành chờ viện
binh, do thành lũy kiên cố, chờ
quân cứu viện. Nghiên cứu kỹ tình hình, Bộ Chỉ huy Nghĩa quân lựa chọn phương
thức tác chiến: “vây thành, diệt viện”. Đây là kế sách rất đúng đắn, sáng tạo,
“sức dùng một nửa mà công được gấp đôi”. Bởi lẽ, địch trong thành Đông Quan có
thành lũy kiên cố, nếu ta cố sức đánh sẽ mất nhiều thời gian, quân mỏi, chí
nhụt, nếu chưa hạ được thành mà viện binh địch kéo đến thì cả phía trước và
phía sau đều bị tấn công, ta từ thế chủ động rơi vào thế bị động. Nếu ta kiên
trì vây thành, tất viện binh lớn của địch phải kéo sang, ta có điều kiện đánh
địch ở nơi chuẩn bị trước để tiêu diệt lớn. Khi viện binh địch bị tiêu diệt,
quân trong thành tất sẽ phải xin hàng. Như vậy sẽ làm giảm bớt thương vong cho
cả hai bên, tránh được cừu hận về sau. Thực hiện ý định đó, Nghĩa quân đã tổ
chức đánh nhiều trận tiêu diệt các doanh trại bảo vệ vòng ngoài, siết chặt vòng
vây, kiên quyết đánh bại các đợt phản kích của chúng. Đúng như dự đoán của ta,
để giải vây cho quân đồn trú ở thành Đông Quan, đầu tháng 10-1427, nhà Minh huy
động lực lượng dự bị chiến lược chia làm hai đạo tiến vào nước ta. Đạo quân chủ
yếu do Liễu Thăng làm Tổng binh, gồm 10 vạn quân, từ Quảng Tây theo đường Lạng
Sơn tiến xuống; đạo quân thứ yếu do Mộc Thạnh chỉ huy với 05 vạn quân theo
đường Vân Nam tiến sang và đều rơi vào thế trận bày sẵn của ta nên đã nhanh
chóng bị tiêu diệt.
Hai là, nhận định,
đánh giá đúng tình hình, xác định chính xác mục tiêu tiến công chủ yếu để đánh
trận quyết định, kết thúc chiến tranh.
Sau khi viện binh lớn của địch xuất hiện, cùng với việc tiếp tục vây hãm địch ở
thành Đông Quan và các thành khác, Bộ Chỉ huy Nghĩa quân đã tiến hành nghiên
cứu kỹ tình hình địch, địa hình và khả năng của ta. Trên cơ sở phân tích, đánh
giá tình hình một cách khoa học, Lê Lợi và Bộ Chỉ huy Nghĩa quân nhận thấy, đạo
viện binh của Mộc Thạnh tuy yếu hơn, dễ đánh, nhưng địa bàn tác chiến lại hiểm
trở, nếu ta di chuyển hàng vạn quân lên miền Tuyên Quang, Hà Giang để đánh địch
thì sẽ gặp khó khăn và khi tình huống thay đổi, khó có thể hội quân kịp thời. Đồng
thời, nếu đạo quân này có bị tiêu diệt thì cũng không tác động lớn đến đạo viện
binh chủ yếu và toàn bộ cuộc chiến tranh. Vì thế, chỉ cần lực lượng thích hợp,
ngăn chặn đạo quân thứ yếu, tập trung lực lượng để tiêu diệt đạo quân chủ yếu,
đó mới là “kế vẹn toàn”. Với đạo quân của Liễu Thăng - lực lượng đảm nhiệm tiến
công trên hướng chủ yếu, có quân đông, lực mạnh, quãng đường đến Đông Quan lại
ngắn hơn đạo quân kia, nên sẽ rất nguy hiểm nếu ta không ngăn chặn, tiêu diệt
được chúng. Từ đánh giá, kết luận tình hình nêu trên, cùng với tổ chức lực
lượng nhỏ, gọn để chặn đánh đạo quân của Mộc Thạnh, Nghĩa quân đã chủ động xây
dựng kế hoạch, quyết tâm và tập trung lực lượng chủ yếu, tinh nhuệ để đối phó
với đạo binh chủ yếu của Liễu Thăng. Đây là nghệ thuật lựa chọn mục tiêu diệt
viện có một không hai trong lịch sử; đó là quân ta dám đương đầu với lực lượng
mạnh nhất của địch khi đã nhìn thấy những điểm yếu chí tử của chúng, như: kiêu
căng, chủ quan, sơ hở, ở thế bị động, để tập trung lực lượng đánh trận quyết
chiến chiến lược, giành thắng lợi. Thực tiễn đã chứng minh, đạo quân Mộc Thạnh
do quân ít, đường xa nên tiến quân dè dặt. Trái lại, đạo quân Liễu Thăng cậy
đông nên tiến quân ào ạt, không có phòng bị, đã nhanh chóng lọt vào trận địa
phục kích của ta và bị tiêu diệt hoàn toàn. Nét đặc sắc của nghệ thuật lựa chọn
hướng tiến công chủ yếu còn được thể hiện, khi đạo quân Liễu Thăng bị đánh tan,
quân Mộc Thạnh đã vô cùng khiếp sợ, tự tan rã, tháo chạy về nước và đạo binh
Vương Thông phải quy hàng và nhà Minh thừa nhận nền độc lập của Đại Việt.
Ba là, vận dụng
cách đánh linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình để tiêu diệt lớn viện binh
địch. Trước tình thế hai đạo viện binh
chiến lược của địch tạo hai gọng kìm tiến vào nước ta, Bộ Chỉ huy Nghĩa quân
nhanh chóng tổ chức lực lượng tiêu diệt toàn bộ các thành trì nằm trên đường cơ
động của hai đạo quân cứu viện. Đây là bước tạo thế quan trọng cho ta, đồng
thời làm viện binh địch mất chỗ dựa quan trọng trong quá trình tiến công. Vì
vậy, khi ta đánh quân viện, ngoài Đông Quan, quân Minh chỉ còn thành Tây Đô và
Cổ Lộng, ta chỉ cần một lực lượng vừa đủ để vây các thành này. Để đánh viện
binh địch có hiệu quả, Bộ Chỉ huy Nghĩa quân đã nghiên cứu nắm chắc lợi thế về
địa hình cùng những điểm mạnh, điểm yếu của từng cánh quân địch. Đối với đạo
quân của Mộc Thạnh, địa hình tiến quân tương đối hiểm trở, phải qua nhiều núi
cao, rừng rậm, sông, suối cách trở nên rất khó cơ động. Vì vậy, Nghĩa quân sử
dụng lực lượng thích hợp, chủ yếu là quân địa phương, lợi dụng địa hình hiểm
yếu để ngăn chặn bước tiến của chúng.
Với đạo quân
Liễu Thăng, có quân đông, tướng giỏi, lực mạnh, Nghĩa quân chủ trương “lấy đoản
binh chế trường trận”, thực hiện bám sát, nắm chắc địch ngay từ khi chúng đặt
chân sang nước ta, tận dụng thế hiểm yếu của địa hình để tạo lập thế trận và sử
dụng lực lượng tiêu diệt địch. Theo đó, cùng với việc đánh cắt lương thảo, ta
sử dụng từng đội quân nhỏ, thiện chiến để đánh chia cắt địch ra từng mảng, đồng
thời vận dụng các biện pháp tác chiến, nhử chúng vào trận địa phục kích để tiêu
diệt. Nhờ đó, ta đã tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, khiến tư tưởng
binh lính địch hoang mang, sức lực cạn kiệt dần, dẫn đến bị động đối phó; từ
đó, buộc phải triển khai ở thế bất lợi. Tận dụng thời cơ, Nghĩa quân đã tập
trung lực lượng với ưu thế vượt trội, tiêu diệt lớn quân địch. Thực tiễn trận
đánh cho thấy, Liễu Thăng cùng với đội quân tiên phong đã bị ta khéo léo dẫn
dắt vào trận địa mai phục hiểm trở ở ải Chi Lăng, nên chỉ với 01 vạn quân,
Nghĩa quân đã tiêu diệt hơn 01 vạn quân Minh cùng chủ soái. Tiếp đó, hơn 01 vạn
quân địch bị phơi xác ở Cần Trạm, 02 vạn tên bị tiêu diệt tại Phố Cát, v.v.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, địch vội vàng dồn quân xuống cánh đồng
Xương Giang để tìm cách đối phó. Nắm chắc thời cơ, Lê Lợi quyết định tập trung
lực lượng vượt trội, bao vây chặt quân địch, hình thành nhiều mũi, hướng, đồng
loạt tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ đạo viện binh chủ yếu của địch. Như vậy,
với cách đánh linh hoạt, sáng tạo, khoét sâu những điểm yếu chí tử của địch,
quân và dân ta đã đánh tan 15 vạn quân thiện chiến của nhà Minh, giành thắng
lợi to lớn. Thắng lợi đó không chỉ xua đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi, kết thúc
chiến tranh mà còn đánh bại ý chí xâm lược của chúng, đem lại nền thái bình cho
đất nước.
Chiến thuật
“vây thành, diệt viện” của Nghĩa quân Lam Sơn đã phát triển đến trình độ cao,
với nhiều nét đặc sắc. Đây là bài học quý báu đã được Đảng, Quân đội tiếp thu
nghiên cứu và vận dụng linh hoạt, sáng tạo, góp phần quan trọng vào thắng lợi
của hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Trong giai đoạn
hiện nay, chiến thuật đó vẫn còn nguyên giá trị, cần tiếp tục được nghiên cứu,
vận dụng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
VIẾT
XUÂN
